Cơ hội và thách thức phát triển dữ liệu không gian địa lý tại nước ta (15/03/2018)
Cỡ chữ
Dữ liệu không gian địa lý đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ ra quyết định quản lý, qui hoạch lãnh thổ, sản xuất kinh doanh,kiểm soát bảo vệ môi trường và phục vụ nhu cầu dân sinh của cộng đồng xã hội.

Tóm tắt

Dữ liệu không gian địa lý đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ ra quyết định quản lý, qui hoạch lãnh thổ, sản xuất kinh doanh,kiểm soát bảo vệ môi trường và phục vụ nhu cầu dân sinh của cộng đồng xã hội.

Việc sản xuất, khai thác dữ liệu không gian địa lý trên cơ sở một hạ tầng chung(SDI) tạo nên một môi trường hợp tác và chia sẻ thông tin, cung cấp nền tảng kỹ thuật, chính trị và thể chế đảm bảo sự thống nhất quốc gia đáp ứng nhu cầu người dùng trong bối cảnh phát triển bền vững.SDI được đánh giá như một sự phát triển tất yếu của các cuộc cách mạng kỹ thuật với hiệu quả và lợi ích đáng ghi nhận tại các nước phát triển, nơi sẵn có mức độ phát triển công nghệ cao, dữ liệu không gian địa lý chủ yếu đã dược số hóa và với nguồn lực tài chính tương xứng dành cho phát triển SDI.

 Tuy vậy, trải qua hơn ba thập niên phát triển SDI tại nhiều nước trên thế giới, cho thấy luôn có sự khác biệt đáng kể về mô hình SDI của từng quốc gia. Không có một mô hình tốt nhất, duy nhất về SDI cho mọi quốc gia mà đòi hỏi những sự cải tiến nhất đinh phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Điều này đem lại những cơ hội và thách thức trước những cố gắng để phát triển SDI đối với các nước đang phát triển, trong đó có trường hợp của nước ta.

Từ khóa: Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia Việt Nam, Mô hình quản lý dữ liệu không gian địa lý

Key word : National Spatial data infrastructure of Vietnam, Model management geospatial data

Geospatial data plays an important role in supporting decision-making, management of territory planning, production control, protecting the environment and serving the population needs of social community.

The production and exploitation of geospatial data on the basis of a common infrastructure (SDI) creates an environment of cooperation and information sharing, provide the technical platform, institutional and political guarantee of national unity to meet the needs of users in the context of sustainable development. SDI was evaluated as a development of the technical revolution with efficiency and remarkable benefits in developed countries, where the level of availability of high-tech development, geospatial data primarily was digitized and with adequate financial resources for the development of SDI.

However, for more than three decades of SDI development in many countries of the world, shows always have considerable differences about SDI model of each country. There is no one best model, unique about SDI for every country which requires the most improvement of nails match the specific conditions of each country. This provides the opportunity and challenge of trying to develop SDI for the developing countries, including in the case of our country.

1.  Dữ liệu không gian địa lý phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

 Theo nghiên cứu của các nhà khoa học địa lý Philippe Rigaux Michel Scholl Agne`s Voisar [11], dữ liệu không gian địa lý là dữ liệu trong đó hội đủ hai thành tố thông tin: Thứ nhất là thành tố chứa thông tin về tọa độ, địa chỉ của các thực thể gắn với trái đất hay được gọi là thuộc tính không gian (ví dụ như các thửa đất, đường sá, sông ngòi, vùng phân bố dịch bệnh...); Thành tố thứ hai là thành tố chứa thông tin thuộc tính mô tả tính chất, mức độ, tình trạng của các thực thể (ví dụ như tên các thửa đất, loại đất, người sở hữu thửa đất và chất lượng đất..vv.). Thông qua hai đặc tính thông tin này, con người tái hiện các thực thể trên mô hình trái đất thu nhỏ, từ đó mỗi khi có nhu cầu, có thể khai thác phần lớn những thông tin địa lý cần thiết có sẵn trên mô hình thay vì bỏ chi phí và công sức khảo sát toàn bộ thực địa. Franklin, Carl & Paula Hane, và Robert E. Williams 1992 [5] nhận xét rằng, khoảng 80% nhu cầu thông tin của các nhà hoạch định chính sách liên quan đến không gian lãnh thổ. Đây chính là ngữ cảnh mà thông tin không gian địa lý trở nên thực sự cần thiết, đóng vai trò thông tin nền để thể hiện các thông tin khác.

Thực tế, các nhà quản lý lãnh thổ đã từng khai thác thông tin dữ liệu địa lý có trên bản đồ để nghiên cứu phân bố mạng lưới điện, nước, khí đốt, đường dây điện thoại và truyền hình, hệ thống thoát nước thải, thu rác và hệ thống đường  sá..vv. và bản đồ lại giúp họ truyền tải ý tưởng thiết kế mối quan hệ các yếu tố qui hoạch đô thị và cấu trúc giao thông công cộng trong mối tương quan với việc phân bố địa điểm các cơ sở y tế, giáo dục và các cơ sở hạ tầng dân sinh khác. Phương pháp bản đồ cũng được dùng để thể hiện tốt nhất việc trừu tượng hóa những dự báo qui luật phân bố sử dụng đất đai và các phương thức trồng trọt, theo dõi tình trạng cây trồng, dự đoán mùa màng và có thể trình bày quá trình phân bố ước tính hậu quả của những biến đổi khí hậu (hạn hán, lũ lụt), dịch bệnh, hoả hoạn.vv. Ngày nay, công nghệ khoa học phát triển đã tạo nên những bản đồ số giúp thúc đẩy việc khai thác thông tin địa lý nhanh chóng và tiện lợi hơn so với việc khai thác chúng trên bản đồ giấy. Nhưng bước đột phá kỹ thuật mạnh mẽ nhất là khi có sự phối hợp giữa công nghệ Đo đạc bản đồ với công nghệ vệ tinh, công nghệ thông tin - viễn thông (ICT) tạo nên mô hình tổ chức mới về dữ liệu không gian địa lý - mô hình  Cơ sở dữ liệu địa lý (CSDL) phần cốt lõi của hệ thống thông tin địa lý (công nghệ GIS). GIS trước hết là công cụ để hiện đại hóa việc sản xuất bản đồ, đồng thời là công cụ phân tích định lượng thông tin không gian địa lý. Với GIS, có thể phân tích chồng lớp, phân tích mẫu điểm, phân tích mạng, phân tích bề mặt, phân tích thống kê không gian, mô hình hóa không gian và trình bày thiết kế theo các phương án khác nhau. Gần đây GIS kết hợp phần mềm phân tích ảnh viễn thám cho phép phân tích không gian 3D đáp ứng lập mô hình dự đoán tiếng ồn (tiếng ồn lây lan ra trong ba chiều); các mô hình về lũ, ô nhiễm không khí, mô hình địa chất), quy hoạch đô thị 3D, giám sát môi trường, viễn thông, các hoạt động cứu hộ công cộng, quy hoạch cảnh quan. Đặc biệt, GIS trên máy tính để bàn (Desktop GIS) đã tạo cơ hội cho mọi cá nhân có thể sáng tạo ra bản đồ địa lý theo sở thích của mình và tham gia thị trường trao đổi toàn cầu trên mạng thông tin, góp phần thúc đẩy thông tin dữ liệu không gian địa lý trở thành hàng hóa cá nhân.

Có thể thấy, GIS trở thành công nghệ chủ đạo trong Hệ thống quản trị thông tin địa lý, hỗ trợ ra quyết định (DSS) tại các ngành kinh tế quốc dân và tại các cơ quan quản lý cấp tỉnh vùng hay các doanh nghiệp lớn.

GIS có mặt tại những công ty kinh doanh lớn, hình thành giám đốc thông tin (CIO) bên cạnh tổng giám đốc điều hành (CEO)  để nắm bắt mọi diễn tiến về mặt thông tin không  gian địa lý, trợ giúp cho CEO ra những quyết định trong dự báo, điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh, phát triển công nghệ và nhân lực.     
2.  Phát triển SDI như là một sự tất yếu của cách mạng kỹ thuật

  Dữ liệu không gian địa lý là yếu tố quyết định thúc đẩy phát triển ứng dụng công nghệ GIS trong các hệ thống DSS nhằm giải bài toán chon các tình huống tối ưu trên nhiều tiêu chí cho lãnh thổ tác nghiệp. Nhưng mỗi khi nhu cầu về lượng dữ liệu không gian địa lý tăng lên thì tình trạng đầu tư trùng lặp để sản xuất chúng thường xẩy ra. Nhiều ngành, nhiều tổ chức, sản xuất cùng một loại thông tin dữ liệu cho cùng một không gian lãnh thổ. Các chủ thể nắm giữ thông tin thường độc quyền và không muốn cung cấp cho mọi người cùng sử dụng, mặt khác việc không đồng nhất chuẩn dữ liệu gây khó khăn cho việc trao đổi. Ở nhiều quốc gia, thông tin không gian đều do các cơ quan nhà nước nắm giữ và chưa có cơ chế tạo động lực phát triển thông tin không gian từ cộng đồng. Khu vực kinh tế tư nhân đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp lớn tự sản xuất và kinh doanh thông tin. Google là một ví dụ điển hình với Google Map và Google Earth đang cung cấp thông tin không gian cho toàn hành tinh sử dụng. Nhu cầu tìm kiếm, truy nhập thông tin được lưu trữ và cập nhật từ  nhiều tổ chức đặt tại nhiều địa điểm khác nhau buộc người sản xuất và sử dụng thông tin đi đến thống nhất quy tắc chung về chia sẻ và tiếp cận thông tin sao cho tiện lợi nhất và đó là ý tưởng về việc xây dựng một hệ thống Hạ tầng dữ liệu không gian (tên tiếng Anh là: Spatial Data Infrastructure, viết tắt là SDI). Đây là một cách tiếp cận nhằm giảm chi phí đầu tư và tạo cơ sở để động viên mọi nguồn lực từ cộng đồng vào việc cập nhật thông tin, quản lý thông tin, tiếp cận thông tin và khai thác thông tin trên nguyên tắc bảo đảm nguồn thông tin không gian ngày càng đầy đủ hơn, chính xác hơn và kịp thời hơn.

Nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia về SDI đã được thành lập nhằm khuyến khích hỗ trợ các quốc gia phát triển SDI: Năm 1996, Hiệp hội quốc tế về hạ tầng dữ liệu không gian địa lý toàn cầu (tên tiếng Anh là: Global Spatial Data Infrastructure, viết tắt là: GSDI) đã được thành lập với 50 quốc gia tham gia nhằm tạo một diễn đàn quốc tế để trao đổi các ý tưởng về SDI và khuyến khích hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Năm 2011, diễn đàn bậc cao đầu tiên về quản lý thông tin không gian toàn cầu tại Seoul đã  thành lập tổ chức về quản lý thông tin không gian toàn cầu (tên tiếng Anh là: United national Global Geospatal Infrastructure Management, viết tắt là: UN-GGIM). Hiệp hội GSDI, Tổ chức chuẩn quốc tế (tên tiếng Anh là International Standard Organization và được viết tắt là ISO) và Hiệp hội thông tin không gian mở (tên tiếng Anh là: Open Geospatial Consortium, tên viết tắt là: OGC) đã nỗ lực hoạt động rất mạnh, khuyến nghị về chuẩn thống nhất, kiến trúc hướng dịch vụ trong phát triển SDI cho khu vực và từng quốc gia. Đã hình thành các tổ chức về hạ tầng thông tin địa lý khu vực tại các châu lục như European Umbrella Organization for Geographic Information ở Châu Âu, Permanent Committee on GIS Information for the Americas ở Châu Mỹ, Permanent Committee on GIS Infrastructure for Asia and the Pacific ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (viết tắt là UN-GGIM-AP) và Permanent Committee on GIS Infrastructure for Africa ở Châu Phi. Hầu hết các nước đã thành lập Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia (tiếng Anh là: National Spatial Data Infrastructure, viết tắt là:NSDI) và đặt tên cho NSDI của từng nước bằng cách thêm tên nước theo các cách như sau, ví dụ: NSDI của Hoa Kỳ, SNIG của Bồ Đào Nha, ASDI của Ôxtrâylia, NaLIS của Malayxia, NSDI của Trung Quốc, NSDI của Hàn Quốc.

3. Những cơ hội và thách thức

Trải qua hơn 3 thập kỷ phát triển SDI, các nhà khoa học và các nhà quản lý đã đi đên nhận xét, SDI là một khái niệm đang liên tục được phát triển, nó được định nghĩa một cách khác nhau do quan điểm các bên liên quan tham gia trong một SDI thuộc các ngành học và các cấp độ chính trị và hành chính của từng cấp SDI trong từng quốc gia. Mô hình và lộ trình phát triển SDI tùy thuộc vào nhu cầu và bối cảnh của từng quốc gia, dưới tầm nhìn cân đối nhu cầu với khả năng của đất nước và cơ hội hội nhập của lĩnh vực dữ liệu không gian, thiết lập quan hệ đối tác và sự hỗ trợ tài chính cho SDI.  

Tiếp cận với tên tên gọi “Spatial Data Infrastructure” được các nước trên thế giới sử dụng với hình thức ngôn ngữ khác nhau. Theo [19], thuật ngữ “Spatial Data Infrastructure” được nhà nghiên cứu người Canađa, sử dụng lần đầu năm 1991 (Dr. John McLaughlinin, 1991). Trước đó, vào năm 1990, Ủy ban khoa học bản đồ thuộc Hội đồng khoa học nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ đã nhiều lần sử dụng thuật ngữ ngữ này. Song mãi đến năm 1994, chính phủ Hoa Kỳ mới chính thức xây dựng và sử dụng thuật ngữ "National Spatial Data Infrastructure - Hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia". Ủy ban của cộng đồng Châu Âu dùng nó vào năm 1995. Riêng với Hà Lan thì thuật ngữ này được hiểu là "National Geographic Information Infrastructure-Hạ tầng thông tin địa lý quốc gia” (NGII, Netherland,1992). Còn ở nước Đức, người ta xây dựng và sử dụng thuật ngữ "Geodaten-Infrastruktur Deutschland - Hạ tầng dữ liệu đia lý Đức" (GDI-DE). Trong khi Úc xây dựng và sử dụng thuật ngữ "Spacial Data Infrastructure - Hạ tầng dữ liệu không gian” vào năm 1998, thì Canada xây dựng và sử dụng thuật ngữ "Geospatial Data Infrastructure- Hạ tầng dữ liệu địa không gian" vào năm 2007. Như thế, trong trường hợp có cùng ngữ cảnh, các thuật ngữ tương ứng với Hạ tầng dữ liệu không gian, Hạ tầng dữ liệu địa lý, Hạ tầng dữ liệu địa không gian và Hạ tầng thông tin không gian khi chuyển sang tiếng Việt buộc chúng ta phải lựa chọn thống nhất một thuật ngữ (có thể là Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý).

Tiếp cận với định nghĩa SDI, cho  thấy, Ủy ban Dữ liệu địa lý liên bang Hoa Kỳ (1997) định nghĩa SDI quốc gia Hoa Kỳ như là một gói bảo hộ gồm chính sách, tiêu chuẩn và thủ tục theo đó tổ chức và các công nghệ tương tác để thúc đẩy hiệu quả hơn sử dụng, quản lý và sản xuất các dữ liệu địa không gian. Nebert, 2006 giải thích thêm rằng SDI bao gồm các tổ chức và cá nhân tạo ra hoặc sử dụng dữ liệu địa không gian và các công nghệ tạo điều kiện sử dụng và chuyển giao dữ liệu địa không gian, Coleman và McLaughlin (1998) định nghĩa SDI toàn cầu bao gồm 'các chính sách, công nghệ, tiêu chuẩn và nguồn nhân lực cần thiết cho các bộ sưu tập có hiệu quả, quản lý, truy cập, phân phối và sử dụng các dữ liệu địa không gian trong một cộng đồng toàn cầu'. Hội đồng thông tin bất động sản Hà Lan (RAVI) xác định hạ tầng thông tin địa lý quốc gia Hà Lan như một tập hợp các chính sách, dữ liệu, tiêu chuẩn, công nghệ (phần cứng, phần mềm và thông tin liên lạc điện tử) và cung cấp cho người dùng với các kiến thức địa lý cần thiết để tiến hành công việc của họ (Masser, 1998).

 

Với SDI quốc gia (NSDI),có thêm chức năng gắn liền với quyền tái phán quốc gia về lãnh thổ trên biển và quan hệ với NSDI các nước có khu vực pháp lý liền kề với nghĩa vụ tích hợp với nhau tạo thành bộ dữ liệu trong khu vực đa quốc gia

 

          Tiếp cận với cấu trúc của SDI qua các định nghĩa về SDI đều nhấn mạnh đặc tính “tương tác và hướng đích“ của các thành phần SDI, nghĩa là các thành phần của SDI phối hợp với nhau theo hướng đích chung là hiệu quả và thuận lợi trong sản xuất, khai thác, phân phối dữ liệu không gian địa lý

Với đặc tính “tương tác và hướng đích” này SDI tạo nên hai tiểu phân hệ là phân hệ chủ thể quản lý và phân hệ đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý của SDI là một cá nhân hoặc tổ chức gồm nhiều người, một ngành, một địa phương tác động lên các hoạt động sản xuất thu nhận, chọn lọc, xử lý, bảo quản, lưu chuyển thông tin địa lý đến các mục tiêu đã định. Phân hệ đối tượng quản lý dữ liên quan đến một bộ máy gồm nhiều người, liên quan đến một ngành hay liên quan đến các quy trình công nghệ trong thu nhận, chọn lọc, xử lý, bảo quản, lưu chuyển sản phẩm và dịch vụ thông tin địa lý. Theo nhà nghiên cứu Rajabifard bao gồm 5 thành phần chính. 

Trong đó:

  1. Thành phần chính sách (Policy) gồm có các tiểu thành phần liên quan các vấn đề : Chiến lược; Pháp luật; Tổ chức
  2. Thành phần Dữ liệu không gian (Data) gồm các tiểu thành phần liên quan các vấn đề: Dữ liệu không gian địa lý hạt nhân, dữ liệu không gian địa lý chuyên đề và Siêu dữ liệu.
  3. Thành phần Chuẩn (Standads) gồm có các tiểu thành phần liên quan các vấn đề: Chuẩn trao đổi dữ liệu, chuẩn siêu dữ liệu và chuẩn dịch vụ dữ liệu.
  4. Thành phần Mạng truy nhập (Clearing house, Cataloge) gồm có các thành phần con liên quan các vấn đề: Truy nhập, xữ lý dich vụ dữ liệu, thiết bị phần cứng, phần mềm, mạng truyền tin..
  5. Thành phần Con người (People) gồm có các tiểu thành phần liên quan các vấn đề: phát triển nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức cộng đồng, nghiên cứu khoa học, kinh phí đầu tư, hợp tác quốc tế. Trong đó, con người được hiểu với nghĩa rộng hơn trước đây là bao gồm cả cá nhân cung cấp dữ liệu, đại lý dữ liệu và người dùng cuối.

Qua thực tiễn của các nước phát triển, cho thấy, cơ cấu thành phần SDI của từng quốc gia phụ thuộc nhiều đến thể chế và việc phân bổ trách nhiệm các cơ quan liên quan đến sản xuất và khai thác dữ liệu địa lý hiện có tại quốc gia đó. Trong một khảo sát về lĩnh vực sản xuất dữ liệu không gian địa lý của 4 quốc gia phát triển là Anh, Hoa Kỳ, Úc và Hà Lan.

 

Vương quốc Anh

Hà Lan

Úc

Hoa Kỳ

Chính phủ  trung ương

Đăng ký đất đai, sản xuất bản đồ tỷ lệ lớn và dữ liệu thống kê

Đăng ký đất đai, sản xuất bản đồ tỷ lệ lớn và dữ liệu thống kê

Sản xuất một số bản đồ tỷ lệ nhỏ và dữ liệu thống kê

Sản xuất bản đồ tỷ lệ nhỏ và dữ liệu thống kê

Chính quyền cấp bang

 

 

Đăng ký đất đai,  sản xuất bản đồ tỷ lệ lớn

Đăng ký đất đai,  sản xuất bản đồ tỷ lệ lớn và bản đồ tỷ lệ nhỏ

Chính quyền cấp tỉnh

 

Sản xuất một số bản đồ tỷ lớn và đăng ký dân số

Sản xuất một số bản đồ tỷ lớn

Đăng ký đất đai,  sản xuất bản đồ tỷ lệ lớn

Bảng 3.1. Phân bổ trách nhiệm quản lý nhà nước các cấp của Anh, Hoa Kỳ, Úc và Hà Lan (nguồn: Ian Maser)

Kết quả khảo sát này chỉ ra rằng, tại Anh cơ quan chịu trách nhiệm về lập bản đồ quốc gia trong chính phủ Anh (Ordnance) là một cơ quan hành pháp có được một mức độ đáng kể quyền độc lập, hiện đang tư vấn cho chính phủ Anh về  tất cả các vấn đề liên quan đến đo đạc, lập bản đồ và GIS. Ngược lại,  với Hà Lan (Topografische Dienst) là một phần của bộ quốc phòng, tại Mỹ, bộ phận bản đồ quốc gia  là một phần của trong cơ quan khảo sát địa chất thuộc bộ nội vụ và tại Úc, (AUSLIG ) là một phần của Cục Tài sản công về quản lý dịch vụ. Trong khi Anh và Hà Lan có tính tập trung hóa cao việc quản lý nhà nước về đăng ký đất đai, lập bản đồ và dữ liệu thống kê kinh tế xã hội, ngược lại, tại Úc và Hoa Kỳ, nhiều nhiệm vụ quản lý dữ liệu không gian địa lý dược chuyển giao cho cấp bang hoặc vùng lãnh thổ tự quản.Vì vậy, đến nay Anh vẫn còn thiếu một cơ quan điều phối chính thức quốc gia về NSDI, với Hà Lan đã có Hội đồng về thông tin bất động sản (tên tiếng Anh là:The Dutch council for Real Estae Information, viết tắt là:  RAVI) được thành lập vào năm 1984 để tư vấn cho bộ trưởng bộ nhà ở, quy hoạch không gian và môi trường về các vấn đề liên quan đến các hoạt động của địa chính. Nó được tái cấu trúc như là một Hội đồng quốc gia về các thông tin địa lý vào năm 1993. Với Úc Hội đồng thông tin đất đai Úc và New Dilan (tên tiếng Anh là: Australia and NewZealand Land Information Council, viết tắt là ANZLIC) chủ yếu liên quan với phối hợp việc chuyển giao các dữ liệu địa lý giữa các cấp khác nhau của chính phủ với thành viên của nó đến từ một cơ quan khối thịnh vượng chung, đại diện tiểu bang, vùng lãnh thổ và các thành viên đại diện New Zealand. Với Hoa Kỳ Ủy ban liên bang về dữ liệu địa lý (tên tiếng Anh là: Federal Geographic Data Committee, viết tắt là: FGDC) thành lập 1990, do bộ trưởng Nội vụ làm chủ tịch và đại diện của Ủy Ban là quan chức cấp cao được chỉ định do tổng thống Clinton. FGDC được tham vấn rộng rãi và có đại diện từ  Bộ quốc phòng, Bộ thương mại, Nội vụ, Cục thống kê và Cục đo đạc địa chất. Vai trò ANZLIC bị hạn chế hơn về quản lý thông tin địa lý so với FGDC. Còn RAVI là một cơ quan độc lập có chức năng tạo điều kiện tham vấn cho giới kinh doanh và thông báo cho các ngành công nghiệp thông tin địa lý Hà Lan, RAVI  không có quyền hạn chính thức để buộc các công ty công ích hoặc công ty tư nhân tham gia vào các hoạt động cung cấp và khai thác dữ liệu không gian địa lý mà chỉ trông chờ vào sự nhiệt tình và sẵn sàng hỗ trợ của các thành viên đó.

Tóm lại, chính sách, lập pháp và thể chế tổ chức tại mỗi quốc gia đã có những tác động nhất định vào cơ cấu, hình thức, qui mô của các thành phần NSDI  và đây là sự khác biệt và mang tính đặc trưng.  Nghĩa là không có mô hình “tốt nhất” hay ”duy nhất” về SDI từ các quốc gia phát triển có thể ứng dụng ngay cho chiến lược phát triển quốc gia khác mà không có sự nghiên cứu và cải tiến. Đối với các nước đang phát triển (trong đó có nước ta), việc xây dựng và phát triển NSDI là một nhiệm vụ phức tạp, không chỉ đối mặt với những thách thức do hạ tầng ITC còn hạn chế, thiếu nhân lực có kinh nghiệm hay nguồn vốn đầu tư, mà còn phải đối mặt với việc làm thế nào để chọn lựa mô hình quản lý NSDI đáp ứng những đặc trưng của bối cảnh xã hội, chính trị, văn hóa của nước mình.

 Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn vừa nêu trên, Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã giao nhiệm vụ cho Trung tâm Thông tin dữ liệu đo đạc và bản đồ thuộc Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam với Đề tài nghiên cứu khoa học (mang mã số TNMT.07.45). Đề tài này nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý của Việt Nam nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng, cập nhật và khai thác dữ liệu không gian địa lý phù hợp với điều kiện cụ thể Việt Nam và xu thế phát triển hạ tầng không gian quốc gia của các nước trên thế giới. Qua hai năm (2014-2016), đến nay Đề tài đã hoàn thành các bước công việc như khảo sát thực tế, thực hiện các chuyên đề, tổ chức hội thảo khoa học, thực nghiệm mô hình và hiện đang vào giai đoạn chuẩn bị báo cáo kết quả nghiên cứu và đề xuất ứng dụng vào thực tế theo đúng kế hoạch nghiên cứu. Đề tài bươc đầu đưa ra phương án đánh giá tính hiệu quả của mô hình nghiên cứu trong việc góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam hiện nay./.

Bài chi tiết có tại file đính kèm theo bài viết

TS. Nguyễn Đức Tuệ

Nguyễn Đại Đồng dosm